Tuesday, July 25, 2023

Thầy Lazaro Phiền - Chương 07

 Thầy Lazaro Phiền

Chương 07

Thầy ấy mở con mắt ra mà nói rằng: “Xin thầy chịu khó mở rương tôi ra mà lấy cái thơ tôi để trong ấy mà đọc, rồi tôi sẽ nói tiếp theo cho thầy nghe.”

Tôi lại mở rương ra thì thấy có một cái thơ; tôi đem cái thơ ấy kề bên đèn mà đọc rằng:

Bà Rịa, ngày 14 tháng tám năm Tân Mùi.

“Kính thăm thầy đặng rõ: người viết thơ nầy là một người xưa nay những tưởng tới thầy luôn. Dầu mà tôi biết nói thiệt sự nầy ra thì đau đớn lòng thầy lắm. Song là sự chán chường trước con mắt mà nín đi thì sao đặng?

Xưa nay ai nấy đều khen bạn thầy là người nhơn đức, hiền lành trung hiếu cùng chồng lắm, chẳng ai ngờ sự rất quái gở! Tôi không biết làm sao mà người bộ bề ngoài nhơn đức như vậy, mà có lòng ngoại tình được. Lại sự rất gớm ghiếc hơn, là người ấy đã chọn bà con mình và bạn hữu thiết nghĩa của chồng mình mà phạm tội ấy.

Tôi biết rằng, khi thầy được thơ nầy thì thầy sẽ nói tôi là một đứa nói gian; song tôi có đủ tang án mà làm cho thầy tin tôi.

Vậy xin thầy kiếm trong tủ để áo của bạn thầy, thì thầy sẽ thấy hai cái thơ của thầy Liễu gởi cho bạn thầy thì thầy sẽ biết tôi có nói sai chăng?

Bấy nhiêu xin thầy nhậm lời cùng miễn chấp.”

Khi tôi đọc thơ rồi thì thầy tu ấy nói rằng: “Thầy ôi! Ngày kia đang khi vợ chồng bạn hữu bà con vui vẻ sum vầy cùng nhau thì sự dữ ấy đến nhà tôi, vì ngày ấy tôi đặng cái thơ nầy đây.

“Ôi! Thầy ôi! Nói sự đau đớn lòng tôi đã chịu khi được thơ ấy thì không nổi. Tôi xin thầy đừng khi nào biết sự đau đớn ấy thì hơn.

Nhưng vậy dầu cực thể nào tôi cũng làm như không có sự gì vậy. Song thật trong lòng tôi quyết kiếm thế nào mà báo cừu hai người đã phá sự phước tôi như vậy.

Ôi! Thầy ôi! Người ta nói rằng: Chẳng có sự dữ nào mà nó đến một mình đâu, một sự dữ thì nó kéo một bầy sự dữ khác theo.”

Thầy Lazaro Phiền - Chương 08

 Thầy Lazaro Phiền

Chương 08

Tôi đặng thơ đã hơn một tuần lễ, kế thầy Liễu mua đặng ngựa thì chở về Saigon. Thầy Liễu lui ghe đặng một ngày thì có tin báo rằng: Ăn cướp đã chận đàng Saigon mà đánh ghe buôn nhiều lắm.

Khi quan tham biện nghe báo như vậy thì kêu tôi mà hỏi rằng: “Thầy dám lãnh mười tên lính đi bắt ăn cướp chăng?”

Tôi suy một hồi rồi thưa lại rằng: “Xin quan lớn cho tôi quân lính và thuốc đạn cụ túc, cho được chống trả phi đảng thì tôi dám đi.”

Vậy quan tham biện liền cho tôi đủ quờn phép khí giái quân lính cùng dạy tôi phải lo xuất hành cho kíp. Khi tôi đặng phép thì trong lòng tôi bồi hồi run sợ, nửa vui nửa buồn, vì tôi có ý xin đặng đủ quờn phép mà làm một sự quái gở kia, cho bằng lòng tôi mới thôi.

Sửa soạn rồi, tới ngày ấy tôi đem mười ba tên lính xuống ghe mà đi. Tôi đi đặng vài con nước thì bỏ Tắc-Mọi đã xa.

Vậy ngày sau chừng sáu giờ chiều, tôi thấy phía bên kia sông, đậu gần bên bờ, một chiếc ghe giống như ghe thầy Liễu vậy. Khi coi đi coi lại, rõ là ghe thầy ấy, thì tôi dạy đậu ghe lại ăn cơm, soạn sửa khí giái, vì tối nay nước lớn thì sẽ có ăn cướp mà bắn.

Phải mà thầy thấy mặt tôi khi ấy thì thầy sẽ kinh khủng chẳng sai. Là vì tôi khi đó như bị quỉ ám vậy. Một ít nữa thì tôi sẽ giết một người kia vô tội, mà bây giờ tôi còn gượng mà cười đặng, thì mặt mũi tôi hóa ra gớm ghiếc lắm.

“Vậy khi ăn cơm nước nghỉ ngơi rồi, thì vừa tới nửa canh ba, nước mới lớn, tôi liền dạy dưới ghe tắt đèn hết, cho ăn cướp không thấy mà đi qua. Súng ống vừa sẵn sàng, thì vừa ghe thầy Liễu đi giữa dòng sông, ngang ghe tôi; tôi liền dạy tên cai đứng nơi lái mà kêu ghé.

Song người cai mới kêu rằng: “Ghe đi kia ghé!” thì tôi nghe một viên đạn đi vo vo bên tai tôi, cùng một tiếng súng nổ nơi ghe thầy Liễu.

Tôi thấy viên đạn gần trúng tôi thì tôi giận quá sức cho nên sự tôi hiềm thù thầy Liễu lại càng thêm nữa. Tôi liền la rằng: “Cha! Chả! Nó cự bây! Bắn!”

Tức thì mười mũi súng day qua ghe thầy Liễu mà phát một lượt; vừa khi ấy tôi nghe một tiếng rằng: “Cha ôi! Chết tôi!”

Tôi nghe tiếng ấy thì tôi biết là tiếng thầy Liễu thì sự giận và sự hiềm thù tôi như thể biến đi đâu mất vậy, cho nên tôi sợ hãi và trách mình tôi lắm. Vậy tôi dạy chèo ghe lại có ý coi có phương thế nào mà cứu thầy ấy chăng.

Song vừa lại đến nơi thì thầy Liễu đã tắt hơi rồi. Nên tôi buồn bực trách móc tôi, cùng khóc lóc lắm, mà tôi khóc tội tôi mà thôi, chớ còn thầy Liễu thì tôi không thương tiếc chúc nào.

Hỏi cớ sự rồi tôi dạy lính đem ghe vô bờ mà nghỉ cho đặng đến sáng về mà báo quan.

Về đến nơi thì tôi đến trình quan tham biện rằng: “Ngày kia hồi canh ba có một chiếc ghe đi ngang qua chỗ tôi đậu mà đón bắt kẻ cướp. Thấy ghe ấy đi ngang qua thì tôi kêu ghé, song ghe ấy không ghé mà lại bắn lại một phát súng, tôi thấy vậy tưởng ghe muốn cự thì dạy lính bắn lại.

Bắn rồi chèo ghe ra mà coi, thì tôi thấy là ghe thầy Liễu đi mua ngựa về có giấy thông hành tử tế, tôi hỏi bạn thì bạn thưa rằng: “Khi thầy tôi nghe kêu thì tưởng là ăn cướp, nên trèo lên mui mà bắn chúng nó; chẳng ngờ đàng kia tưởng ăn cướp bắn cự thì bắn lại; mà tại thầy tôi ở trên mui cho nên bị đạn mà chết đi.”

Tôi trình rồi, quan tham biện nói rằng: “Thầy có phép quan sai đi bắt ăn cướp, mà bởi thầy kia đã không hỏi han cho rõ trước khi bắn lại cho nên chết thì phải chịu; thầy không tội gì!”

Nói rồi quan tham biện quở trách tôi sao không hỏi cho kĩ càng cùng dạy tôi về mà chôn cất thầy ấy cho tử tế.

Vậy thầy ôi! Từ ngày ấy cho đến bây giờ thì trí tôi không khi nào an đặng, tôi những thấy súng ống khí giái luôn, nhứt là khi ngủ thì tôi thấy tôi bị ăn cướp bắt mà bắn tôi hoài. Song dầu mà lương tâm tôi cắn rứt tôi thể nào thì tôi cũng không quên sự lỗi của thầy Liễu và của bạn tôi đã phạm với tôi.

Nhiều lần tôi ở trường án mà về thì tôi muốn lại hỏi mọi sự ra cho vợ hay mà tha lỗi cho vợ. Song khi lại gần thì tôi không muốn nói ra lại tưởng rằng: hỏi nó thì nó đương chịu cho đó. Ai dại mà chịu làm cha ăn cướp, bởi vậy cho nên tôi không khi nào nguôi sự lỗi bạn tôi đã phạm cùng tôi đặng.

Thầy Lazaro Phiền - Chương 09

 Thầy Lazaro Phiền

Chương 09

Khi tôi còn nhỏ, thì thường có Mọi hay đến mà bán hàng nơi nhà tôi. Trong mấy người Mọi đó thì có một đứa hay ra ngoài vườn mà hái một thứ bông tím tím kia, ở dưới cỏ mà mọc lên; tôi thấy người ấy hái thì tôi cũng bắt chước hái chơi.

Người Mọi thấy tôi hái bông đó thì la tôi biểu đừng có hái, vì nó là giống độc lắm; sắc chừng một nắm mà uống thì phải mắc bịnh lần lần cho đến bảy tám tháng một năm thì phải chết, uống vô rồi không thuốc nào mà chữa đặng.

Khi ấy thầy Liễu đã chết đặng mười lăm bữa rồi. Ngày kia tôi nhớ đến sự cực của tôi, thì trí khôn tôi nó bắt xao xiến bối rối làm cho tôi như điên vậy, thì tôi đi ra vườn cho có gió mát giải phiền một ít.

Tôi đi chưa đặng giáp vòng vườn thì tôi ngó thấy một đám cỏ bông tím dưới chơn tôi, tôi cúi xuống mà hái nó mà coi, thì tôi thấy nó là cái bông thuốc độc người Mọi đã nói với tôi khi trước.

Vậy tôi nhắm cái bông một hồi, rồi cúi xuống hái một nắm bỏ vô khăn cầm vào nhà. Thật sự tôi sẽ làm thì hiểm độc lắm, mà khi tôi vô nhà thì trí tôi cũng an tĩnh như tôi mới làm một sự phước vậy.

Tôi vô nhà thấy bạn tôi đang bắc một cái siêu trên bếp thì tôi hỏi rằng: “Mình sắc gì đó vậy?”

Bạn tôi trả lời: “Ba bốn bữa rày nó bắt tôi ho dữ quá, cho nên khan tiếng; tôi sắc thử lá nguyệt bạch với chanh uống coi có hết chăng.”

Tôi làm thinh không nói gì, cứ cúi xuống mà ngó cái siêu luôn, tôi ngó cái siêu thì thấy cái nắp nó nhảy lên nhảy xuống dường như muốn mời tôi bỏ nắm bông trong khăn vô đó vậy. Vừa khi ấy bạn tôi lên nhà trên ăn trầu, thì tôi lại giở nắp siêu lên bỏ nắm bông ấy vô.

Khi bạn tôi uống rồi, đến ngày mai thì không chỗi dậy khỏi giường cũng không ăn uống gì đặng.

Thầy ôi! Khi tôi biết tội tôi trọng là thể nào, cùng khi thấy bạn tôi nằm trên giường mà than thở thì tôi buồn bực ăn năn trách mình muốn cứu vợ tôi cho khỏi chết. Tôi rước không biết là mấy thầy; mà mỗi khi thầy nào đến tôi cũng lắc đầu hết, vì khi ấy tiếng người Mọi đã nói với tôi hơn hai mươi năm nay thì tôi nhớ lại hết: “Uống vô rồi không thuốc nào cứu đặng”

Bây giờ mỗi ngày thì bạn tôi lại thêm ốm o gầy mòn hoài. Khi tôi thấy bịnh bạn tôi càng ngày càng nặng hơn chừng nào thì tôi lại càng trách mình chừng nấy.

Bạn tôi đau đã hơn mười một tháng song tôi không nghe khi nào bạn tôi mở miệng ra mà nói cùng than thở điều gì; khi thấy tôi buồn thì kiếm lời dịu dàng mà an ủi tôi thì có.

Ôi! Trong mười một tháng ấy tôi trách mình tôi không biết là bao nhiêu; tôi buồn bực cho đến đổi có nhiều lần bạn tôi thấy tôi chảy nước mắt ra thì tưởng tôi khóc vì nó, thì nói cùng tôi rằng: “Xin thầy đừng rầu rĩ làm chi, tôi không chết đâu; tôi đã chịu thuốc rồi, it ngày đây thì tôi sẽ lành.”

Những lời như vậy thì nó làm cho tôi đau đớn như lưởng gươm đâm thấu vào lòng tôi vậy. Tôi chịu cực thể ấy cho đến gần nữa năm 1873.

Ngày kia tôi thấy bạn tôi mệt lắm thì tôi biết đã gần giờ nó phải lìa khỏi thế rồi, nên tôi ở gần một bên bạn tôi luôn. Đến nữa đêm khi tôi thấy bạn tôi còn thở hơi ra mà thôi thì tôi không còn trông cậy gì về sự sống nó nữa, thì tôi cho mời các chức đến mà đọc kinh giúp kẻ mong sanh thì.

Khi các chức đến đọc kinh cùng kêu Chúa đặng một hồi lâu, thì đồng hồ đánh ba giờ sáng. Khi ấy bạn tôi bắt tay tôi mà kéo tôi lại một bên miệng mà nói rằng: “Tôi biết vì làm sao mà tôi phải chết. Song tôi cũng xin Chúa thứ tha cho thầy.”

Nói rồi làm thinh cho đến bốn giờ thì linh hồn ra khỏi xác.

Ôi! Thầy ôi! Khi tôi thấy tôi còn ở đời một mình thì sự buồn bực nó đã quá trí tôi đi. Lại khi tôi tưởng đến hai người, tôi đã thương mến quá chừng mà đã phải bị tay tôi mà chết thì tôi buồn bực sợ hãi đêm ngày. Cho nên khi chôn cất bạn tôi rồi tôi xin thôi làm việc mà lên Saigon đặng xin Đức cha chuẩn cho tôi vô ở nhà dòng Tân Định mà tu trì đức hạnh ít lâu.

Tôi vô nhà dòng rồi, thì tôi ở một cách sốt sắng lắm: đêm ngày tôi những đọc kinh cầu nguyện, ăn chay hãm mình cùng học hành siêng năng tử tế lắm cho nên các thầy bề trên tôi đều bằng lòng mà khen ngợi tôi hết. Tôi có ý ra sức mà làm các sự ấy, cho đặng quên hai tội tôi không xưng ra.

Bởi vậy, bề ngoài người ta gọi tôi là người nhơn đức, mà hẳn thật tôi là đứa tội lỗi giả hình mà thôi, cho nên dầu tôi làm thể nào, thì lương tâm tôi cũng cắn rứt luôn chẳng khi nào cho trí khôn tôi bình an đặng.

Thầy ôi! Tôi chịu cực mà học như vậy đã đặng sáu năm, chịu đặng chức thầy, cho đến năm kia là 1882, thì tôi mắc bịnh nầy; vì mình tôi đã mệt lại thêm trí tôi không an nữa thì nó sanh ra nhiều chứng bịnh lắm.

Đã hai năm nay tôi ở nhà thương mà uống thuốc, song bịnh tôi càng ngày càng tấn tới thì thầy thuốc dạy tôi xuống Vũng Tàu, ở đó thanh khí có lẽ ông bớt chăng.

Nói tới đây thì trời vừa sáng, tàu đến Vũng Tàu.

Vậy tôi mới nói với thầy ấy rằng: “Tội thầy đã nói với tôi đó là điều độc dữ lắm, song Chúa nhơn từ vô cùng, còn dung thầy sống đến nay thì thầy phải xưng tội thì Chúa sẽ tha cho thầy chẳng sai đâu.”

Thầy ấy trả lời rằng: “Thầy đừng sợ làm chi, mai đây cha sở Bà Rịa xuống Vũng Tàu thì tôi sẽ xưng tội tôi ra hết, vì tôi chịu cực cũng đã quá trí rồi.”

Tôi lại hỏi rằng: “Thầy xuống Vũ ng Tàu mà ở nhà ai?”

Thầy ấy trả lời rằng: “Tôi xuống ở nơi nhà cha Bà Rịa đã cất để mà nghỉ tạm khi cha xuống Vũng Tàu.”

Nói chuyện vừa rồi tàu gieo neo; khi thầy ấy bắt tay tôi từ giã mà lên đất, thì thầy ngó tôi mà rằng: “Thầy! Coi tôi cho rõ có lẽ ta gặp nhau lần nầy là lần sau hết. Xin thầy đi bằng an, đến sau khi thầy có xuống Bà Rịa, thì tôi xin thầy hãy đọc một kinh nơi mồ LAZARO PHIỀN.” Nói rồi thầy Phiền xuống đò mà lên đất.

Thầy Lazaro Phiền - Chương 10 - Kết

 Thầy Lazaro Phiền

Chương 10 – Kết

Thầy ấy lên đất đặng nửa giờ thì tàu đi vô Bà Rịa. Tôi ở Bà Rịa, đặng một tuần lễ, rồi tôi trở lại Saigon không nghe tin thầy Lazaro Phiền nữa cho đến ngày 27 janvier 1884 thì người đem thơ đam đến nhà tôi một cái thơ.

Tôi coi ở ngoài bao thơ thì thấy có đóng con dấu Bà Rịa, tôi giở thơ ấy ra thì thấy đề rằng:

“Bà Rịa, ngày 25 janvier 1884,

Kính thăm thầy đặng mạnh giỏi trong chúa Khirixitô, cùng xin Chúa phù hộ cho hai vợ chồng thầy.

Thầy ôi! Tôi xưa nay đã giấu tội tôi khi còn sống làm cho thiên hạ tưởng tôi là người trọn lành cho nên trước khi tôi bỏ thế mà xuống nằm nơi tro bụi tôi muốn cho người ta biết tôi là ai, biết tội tôi là thể nào.

Vậy nay tôi mới viết thơ nầy mà xin thầy giúp tôi làm việc ấy cho nên. Bây giờ có một mình thầy cùng cha sở Bà Rịa biết các việc tôi mà thôi, mà cha sở người chẳng có phép mà tỏ tội tôi đã xưng ra với người. Bởi vậy tôi mới dám xin thầy, khi tôi chết rồi, thì thuật truyện tôi lại cho mọi người biết, lại tôi xin thuật truyện sau nầy đặng cho thầy tiếp theo sự tôi đã nói cùng thầy dưới tàu Jean-Dupuis ngày 12 janvier 1884, có lẽ khi thầy đặng thơ nầy thì Lazaro Phiền chẳng còn ở đời nữa.

Tôi về Bà Rịa đã đặng ba bữa rày cho đặng gần cha linh hồn, vì thầy thuốc đã đoán rằng: tôi không còn sống đặng hơn ba ngày nữa. Vậy ngày hôm qua tôi xin cha “cho phép người ta võng tôi đi xuống Đất Đỏ mà viếng quê hương tôi một lần sau hết.

Ôi! Khi tôi thấy nơi tôi ở thuở còn thơ ấu thì hai hàng nước mắt tôi tuôn xuống ròng ròng.

Khi ấy trí khôn tôi nhớ trực lại hết những sự trốn lánh cực khổ ông già tôi và tôi đã chịu khi còn bé thì tôi bước xuống võng lại ngồi trên miệng giếng ở trước nhà tôi thuở trước cùng ôm mặt tôi mà khóc ròng; một hồi lâu tôi chỗi dậy lên võng biểu người ta đem tôi về Bà Rịa.

Tôi về vừa đến nhà thì cha sở đưa cho tôi một cái thơ cùng dạy tôi đọc cái thơ ấy cho đến cùng.

Tôi giở thơ ra thì thấy chữ viết trong thơ là chữ đờn bà không có ký tên. Vậy trong thơ ấy viết thể nầy; tôi xin chép lại đây cho thầy coi:

“Thơ nầy là thơ một người đã làm cho thầy phạm hai tội rất trọng cùng bởi hai tội ấy mà làm cho thầy chịu cực khổ mười năm nay, tôi cúi lạy thầy!

Nay mai thì thầy sẽ về cùng Chúa cho nên tôi dám đến mà tỏ ra cùng thầy sự thiệt hại tôi đã làm cho thầy phải chịu, mà xin thầy hãy theo gương Chúa mà lấy lòng thương xót tha sự tội ấy cho một người đã có lòng thật thà mà ăn năn cùng đền tội mình.

Lạy thầy tôi là một người đờn bà tội lỗi dại dột cùng bạc ác lắm; thuở tôi còn xuân xanh thì đã theo đàng tội lỗi mê sa sắc dục thế gian xác thịt, cho đến hai mươi mốt tuổi. Khi ấy tôi ở với ông quan ba kia ở tại đồn Bà Rịa đã đặng ba tháng; rồi qua năm 1871 khi tôi thấy thầy xuống làm thông ngôn tại Bà Rịa thì tôi lại đam lòng mà thương thầy một cách rất lạ lùng lắm.

Ban đầu tôi mướn người làm cách nọ thể kia mà đam thầy vô đàng tội lỗi cùng tôi mà tôi thấy thầy khinh dễ chê ghét tôi, thì tôi lại kiếm thế mà oán thù. Tôi đã kiếm cách thế mà hại thầy đã hơn hai tháng, vừa may kế lấy thầy Liễu xuống đây mà mua ngựa; nhơn dịp ấy tôi mới viết hai cái thơ giả chữ thầy Liễu, mà sai người đem giấu hai thơ ấy nơi áo bạn thầy, rồi tôi gởi một cái thơ khác cho thầy mà cáo gian hai người nhơn đức ấy.

Bây giờ thầy biết rõ ràng rằng: Bạn thầy cùng thầy Liễu là người vô tội mà đã bị chết hoan vì tôi. Cho nên tôi lạy xin thầy tha tội cho tôi, thì Chúa cũng sẽ tha tội cho thầy.

Tôi chẳng dám viết tên tôi vào thơ nầy; tôi xin thầy hỏi cha sở Bà Rịa thì thầy sẽ biết tên người đờn bà tội lỗi ấy là ai.”

Qua năm sau, là 1885 nhằm ngày bãi trường, tôi xuống Bà Rịa một lần nữa mà thăm bà con cùng cha sở Bà Rịa.

Ngày kia tôi đi cùng cha sở ra đất thánh mà viếng nhà thờ Tử Đạo, vì nơi ấy có ông bà tôi nằm đó. Khi tôi ra khỏi nhà thờ thì tôi thấy có một cái mồ gần một bên có cây thánh giá, có đề chữ mà mưa đã làm lu hết còn sót bốn chữ: 27 janvier 1884 mà thôi; tôi hỏi cha rằng: “Mồ ấy là mồ ai?”

Cha sở trả lời rằng: “ Mồ ấy là mồ thầy kia đã phạm tội trọng lắm, mà khi gần qua đời đã ăn năn tội một cách rất trọn lành cho nên bây giờ ở tại nước thiên đàng chẳng sai?”

Tôi hỏi cha rằng: “Có phải là mồ thầy Phiền chăng?”

Cha sở vừa ừ; thì tôi quì gối nơi mồ mà đọc rằng: “Chúng tôi cậy vì danh Chúa nhơn từ cho linh hồn Lazaro Phiền đặng lên chốn nghỉ ngơi. Hằng xem thấy mặt Đức Chúa Trời sáng láng vui vẻ vô cùng.”

[1] Nhà thờ những kẻ Tử Đạo tại Bà Rịa là nhà thờ nhỏ cất nơi mồ chôn xương những kẻ chịu đốt tại Bà Riạ. Trong nhà thờ ấy, ở giữa có một cái mồ nơi đầu mồ có một cái bàn thờ, nơi mồ ấy thì có sáu câu như vầy:

Ba trăm bổn đạo xác nằm đây

Những trông sống lại hưởng phước đầy

Vì chúa tù lao dư ba tháng,

Cam lòng chịu đốt chết chỗ nầy,

Lập mồ táng chung vào một huyệt,

Giáo nhơn coi đó nhớ hằng ngày.

[2] Truyện thầy tu thuật lại sau nầy về sự giam cầm trong ngục thuở bắt đạo khi Tây qua, thì tôi đã nghe bà già tôi nói lại nhiều lần; vì bà già tôi khi ấy cũng bị bắt bị đốt tại Bà Rịa song đã trốn ra khỏi.

Đã hai mươi năm nay mà bốn chữ “Biên Hoà Tả Đạo” cũng còn rõ ràng nơi mép tai như mới khắc vậy.